alt

BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH - NGUYÊN NHÂN VÀ TRIỆU CHỨNG

  Thứ Mon, 18/11/2019

1. Phổi có vai trò như thế nào?

Phổi là một bộ phận trong cơ thể với vai trò chính yếu là trao đổi các khí – đem oxy từ không khí vào tĩnh mạch phổi và điôxít cacbon  từ động mạch phổi ra ngoài. Ngoài ra, phổi cũng có một số khả năng thứ yếu khác, giúp chuyển hóa một vài chất sinh hóa, lọc một số độc tố trong máu. Phổi cũng là một nơi lưu trữ máu.

2. Cấu tạo của phổi và cơ chế hoạt động của hệ thống hô hấp

a. Cấu tạo của phổi

Trong cơ thể người, phổi gồm có hai buồng phổi nằm bên trong lồng ngực, được bao bọc bởi các xương sườn xung quanh, phía dưới có cơ hoành ngăn giữa phổi và các cơ quan trong bụng như gan, dạ dày, lá lách. Giữa hai buồng phổi là khí quản (1) - ống dẫn khí chính. Khí quản phân ra hai nhánh phế quản chính (2) (3). Quả tim nằm giữa hai phổi (trung thất), hơi trệch về bên trái.

Buồng phổi bên trái có 2 thùy (trái-trên (5a), trái-dưới (5b)), bên phải có 3 thùy (phải-trên (4a), phải-giữa (4b) và phải-dưới (4c)). Mỗi buồng phổi có một phế quản chính, một động mạch (8) và hai tĩnh mạch - những ống dẫn này chia như nhánh cây chi chít từ lớn ở giữa ngực (trung thất) đến cực nhỏ phía ngoài cùng của buồng phổi - kèm theo là các dây thần kinh và mạch bạch huyết.

Những ống dẫn khí lớn hơn như khí quản và phế quản lớn được nhiều vành sụn giữ cho cứng và có ít cơ trơn. Bên trong các ống có lát màng tế bào tiêm mao và một lớp màng nhầy mỏng trên các tế bào này. Chất nhầy giữ bụi, hạt phấn và các chất bẩn khác. Qua chuyển động của tiêm mao, chất bẩn bám theo màng nhầy được đẩy lên và đưa vào thực quản nuốt xuống dạ dày theo nước miếng.

b. Sơ lược về hoạt động của hệ hô hấp

Hệ hô hấp có hai phần, "hô hấp ngoại" là giai đoạn phổi hấp thụ O2 từ không khí bên ngoài vào cơ thể và thải CO2 ra. "Hô hấp nội" là giai đoạn trao đổi O2 và CO2 tại các tế bào trong cơ thể.

Hệ "hô hấp ngoại" gồm có hai lá phổi, như hai túi hơi được kéo ra - để hút hơi vào; và bóp lại - để đẩy hơi ra bởi một dàn khung bơm. Dàn khung này là bộ xương lồng ngực và cơ hoành, cử động nhịp nhàng theo co bóp của các cơ xương ngực và cơ hoành, dưới sự điều khiển của một số tế bào đặc biệt trong não. Trong tình trạng thư giãn, con người hít thở 12-15 lần một phút; mỗi lần thở 500 mililít không khí (nghĩa là khoảng 6-8L mỗi phút); 250 mL O2 đi vào cơ thể và 200 mL CO2 trở ra.

Trong hơi thở ra có nhiều chất khí thải từ trong cơ thể - khoa học có thể xét nghiệm được khoảng 250 loại khí khác nhau từ hơi thở con người, thí dụ methane (từ ruột); rượu (khi uống rượu), acetone (khi nhịn ăn),...

3. Khái quát về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD, COAD hay COLD) là một dạng bệnh lý tắc nghẽn thông khí phổi được định tính là sự suy giảm thông khí mạn tính. Nó thường diễn tiến xấu dần theo thời gian. Các triệu chứng chính bao gồm khó thở, ho và sinh đờm. Đa số bệnh nhân viêm phế quản mạn tính có COPD.

Theo kết quả nghiên cứu được thực hiện trên gần 2.600 người ở Hà Nội năm 2005, 6,8% số người trên 40 tuổi bị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Tại Khoa Hô Hấp Bệnh viện Bạch Mai, số bệnh nhân nội trú điều trị căn bệnh này chiếm 26%. Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính gây tử vong rất cao, chỉ đứng sau bệnh mạch vành, ung thư và tai biến mạch máu não.

Trên toàn thế giới, COPD ảnh hưởng đến 329 triệu người, tức là gần 5% dân số. Năm 2012, nó xếp hạng ba trong các nguyên nhân tử vong hàng đầu, giết chết hơn 3 triệu người. Số ca tử vong được dự đoán là sẽ tăng lên do tăng tỷ lệ hút thuốc và do dân số già đi ở nhiều nước. COPD gây tổn thất kinh tế ước tính trị giá 2,1 ngàn tỷ vào năm 2010.Theo kết quả nghiên cứu được thực hiện trên gần 2.600 người ở Hà Nội năm 2005, 6,8% số người trên 40 tuổi bị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Tại Khoa Hô Hấp Bệnh viện Bạch Mai, số bệnh nhân nội trú điều trị căn bệnh này chiếm 26%. Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính gây tử vong rất cao, chỉ đứng sau bệnh mạch vành, ung thư và tai biến mạch máu não.

a. Nguyên nhân của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Hút thuốc là nguyên nhân thường gặp nhất của COPD, với một số yếu tố khác như ô nhiễm không khí hay di truyền đóng vai trò nhỏ hơn. Ở các nước đang phát triển, một trong những nguồn ô nhiễm không khí là khói từ việc đốt lửa nấu ăn hay sưởi ấm dẫn thoát kém. Tiếp xúc lâu dài với những kích thích tố kể trên sẽ gây phản ứng viêm tại phổi dẫn đến kết quá là sự co hẹp các đường dẫn khí nhỏ và sự phá hủy mô phổi, gọi là khí phế thủng. Chẩn đoán dựa vào sự giảm khả năng thông khí, được đo bằng các bài kiểm tra thăm dò chức năng hô hấp. Trái ngược với hen suyễn, sự giảm thông khí của COPD không cải thiện đáng kể với chỉ định dược phẩm.

Hút thuốc lá là yếu tố nguy cơ gây bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính hàng đầu. Người hút thuốc dễ bị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính gấp 10 lần hơn người không hút thuốc. 80-90% bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có hút thuốc. Gần 50% những người hút thuốc lâu dài sẽ bị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (hút >20 gói năm thì nguy cơ bị COPD là rất cao). Hút thuốc lá thụ động cũng là yếu tố nguy cơ gây bệnh.

Chú ý nhất là phụ nữ hút thuốc lá trong khi có thai sẽ ảnh hưởng không những phổi và sức khoẻ của người mẹ mà còn ảnh hưởng rất lớn đến sự trưởng thành cho phổi của đứa trẻ.

Ô nhiễm môi trường: Ô nhiễm môi trường trong nhà với khói lò sưởi, khói bếp rơm, rạ, củi, than... gây nên khoảng 20% các trường hợp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trên thế giới. Ô nhiễm không khí với khói của các nhà máy, khói của các động cơ giao thông, khói, bụi nghề nghiệp cũng là các yếu tố nguy cơ gây bệnh.

b. Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính xảy ra theo cơ chế nào?

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có liên quan đến phản ứng viêm và các yêu tố nguy cơ: khói thuốc lá, khí độc khi vào đường dẫn khí thì chính các khí này kích thích đại thực bào và các tế bào thượng bì tiết ra các TNF alpha và các chất trung gian gây viêm như IL8...Cho nên phản ứng viêm trong bệnh này chính là đáp ứng bảo vệ của đường hô hấp trước những tác động của khói thuốc và các chất độc khác.

Thiếu alpha1 antiytripsin: đây là một chất ức chế một số protein như là neutrophile elastase làm gia tăng nguy cơ gây khí phế thủng; elastin là một thành phần chính của thành phế bào bị huỷ bởi neutrophile elastase. Sự mất cân bằng giữa proteinase và antiproteinase nội sinh có thể gây nên sự phá huỷ phổi và có thể xảy ra do sự suy giảm hoạt tính của antiproteinase do stress oxy hoá, do thuốc lá và có thể do những yếu tố nguy cơ khác của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.

c. Sinh lý của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Sự giới hạn lưu lượng khí thở trong bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính thường không hồi phục và chỉ có một số ít có khả năng hồi phục do hiện tượng tái cấu trúc lại gây xơ hoá và hẹp đường thở nhỏ. Những vị trí thường xảy ra là các tiểu phế quản hay một số các phế quản có đường kính dưới 2 mm. Chính chúng gây ra kháng lực đường thở (tăng > 2lần so với bình thường) cho nên khi đo chức năng hô hấp thì ta có FEV1 và FEV1/FVC giảm. Trong thực tế điều này chứng tỏ có sự giới hạn lưu lượng khí. Cũng chính sự tăng kháng lực đường thở này chúng tăng số lượng phá huỷ các tế bào,tăng khí phế thủng

Tổn thương và khí phế thủng gây nên sự mất cân bằng giữa tuần hoàn và thông khí cho nên nó dẫn đến thiếu oxi máu, lúc đầu chỉ thiếu oxi máu khi gắng sức, sau đó tiến triển nặng dần dẫn đến thiếu oxi máu cả khi nghỉ ngơi.

4. Triệu chứng của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Triệu chứng của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính phát triển chậm. Những triệu chứng đầu tiên có vẻ nhẹ, bệnh nhân thường cho rằng đây là chuyện không đáng quan tâm:

  1. Ho- khi đầu vào buổi sáng, sau đó dần dần ho nhiều lần suốt ngày đêm
  2. Ho ra đờm- lúc đầu ít, loãng, càng về sau càng đặc, khó khạc lên
  3. Khó thở- lúc đầu chỉ thỉnh thoảng. Khi bệnh nặng, người bệnh luôn luôn thấy khó thở, không di chuyển được - nhiều trường hợp phải dùng mặt nạ thở ôxy trường kỳ
  4. Thở khò khè hay như hen suyễn- do phế nang bị sưng và đàm làm nghẽn
  5. Mệt nhọc, thiếu sức
  6. Ngực bị nén
  7. Viêm phổi

a. Phân loại giai đoạn lâm sàng theo GOLD 2003:

  1. Giai đoạn 0: Những cá thể mang những yêu tố nguy cơ của bệnh.
  2. Giai đoạn I: Ho mạn tính và khạc đàm. Những triệu chứng này có thể tồn tại rất nhiều năm trước khi có các dấu hiệu của giới hạn lưu thông khí và thường bệnh nhân không để ý những triệu chứng này
  3. Giai đoạn II: Giai đoạn này bệnh nhân thường có triệu chứng khó thở khi gắng sức và đây là giai đoạn bệnh nhân thường được chẩn đoán là bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.
  4. Giai đoạn III, IV: triệu chứng khó thở ngày càng nặng thêm và xảy ra thường xuyên hơn..khi nghỉ ngơi. Đây là giai đoạn có thể có những biến chứng.

b. Phân độ trầm trọng của bệnh theo lâm sàng:

  1. Đợt bộc phát nhẹ gồm một trong các triệu chứng:
  • Nhiễm khuẩn đường hô hấp trên
  • Sốt không rõ nguyên nhân
  • Ho tăng và khi khám phổi có khả năng nghe được rale rít
  1. Đợt bộc phát vừa có 2 trong ba triệu chứng
  2. Đợt bộc phát nặng có 3 triệu chứng

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có thể được ngăn ngừa bằng việc hạn chế tiếp xúc với các nguyên nhân đã biết, bao gồm các cố gắng giảm tần suất hút thuốc và tăng chất lượng không khí môi trường trong và ngoài nhà. Chỉ định bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính bao gồm: cai hút thuốc, chủng ngừa, phục hồi chức năng, hít thường xuyên các thuốc giãn phế quản và các steroid. Một số trường hợp có thể cải thiện bằng trị liệu oxy dài hạn hay ghép phổi. Ở những bệnh nhân có các đợt kịch phát cấp tính, tăng liều điệu trị hay nhập viện có thể cần thiết.

Nguồn: Ban biên tập NAVITA

Viết bình luận của bạn:

Đăng ký tư vấn

Nhận tư vấn miễn phí 24/7 từ đội ngũ Bác sĩ, Chuyên gia của Công ty NAVITA, Hungary

Đặt lịch hẹn tư vấn

Nhận thông tin khuyến mãi

popup

Số lượng:

Tổng tiền: